hat-nha-to-hat-mua-cua-dinh-la-di-san-van-hoa-cua-nguoi-viet

Hát nhà tơ – hát, múa cửa đình là di sản văn hóa của người Việt

10/12/2018 toasoankhoedepplus

Khỏe Đẹp Plus – Sự thật ấy chẳng có gì phải bàn cãi nếu như Trung Quốc không công nhận Hát nhà tơ, hát cửa đình là Di sản văn hoá phi vật thể của dân tộc thiểu số của Trung Quốc và đang trình lên Unesco công nhận di sản văn hoá của Trung Quốc.

Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng, dân gian bằng thơ ca đặc sắc của người Việt ở vùng ven biển Quảng Ninh.

Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình được xác định là một thể loại như hát Ca trù. Hát nhà tơ hay hát nhà ty là tên gọi khác của hát Ca trù, hát ả đào. Các quan khi yến tiệc trong đình, trong ty thì mời các đào nương về hát mua vui nên dần dần mới có tên gọi hát ả đào. Còn hát cửa đình là cuộc hát được tổ chức tại đình làng hàng năm. Thời điểm tổ chức là vào ngày mở hội tế thần, lễ thành hoàng làng.

hat-nha-to-hat-mua-cua-dinh-la-di-san-van-hoa-cua-nguoi-viet

Biểu diễn Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình

Luật lệ hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể. Đây là một loại hình sinh hoạt động văn hóa cộng đồng, mang đặc sắc dân gian, nữ giới hát nhiều hơn nam giới, với phong cách hát, múa nhẹ nhàng, uyển chuyển, thường là gia đình, bố hoặc mẹ đi hát, hoặc nghe hát rồi truyền lại cho con cháu.

Đề tài và nội dung bài hát tuy chưa đầy đủ nhưng về cơ bản cũng đúng như các giá trị của ca trù đã được phân tích, nhận định khá thống nhất. Bên cạnh nội dung bày tỏ lòng thành kính tưởng niệm các thần thánh, các vị anh hùng dân tộc mang đậm dấu ấn đời sống tâm linh nhiều thế kỷ, một loạt bài Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình là những bài học về lẽ sống, là những lời khuyên bảo về đạo đức.

Về hình thức trình diễn, Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình hết sức coi trọng múa. Gần như giọng hát nào khi trình diễn cũng có múa. Hơn thế trong một cuộc hát còn có cả tiết mục múa tế, múa trong lúc tế chứ chưa phải lúc hát. Có điệu múa đội kèn chỉ có múa, tuyệt nhiên không có lời hát.

Về trang phục, ca nương (đào hát) mặc áo dài trong màu hồng, ngoài màu đen, đầu đội khăn vấn đen; nam (kép) mặc áo dài xanh hoặc đen, đầu đội khăn xếp, quần trắng. Nhạc cụ là đàn đáy, phách, xênh, trống con (trống chầu), trống cái. Trống chầu do ông cầm chầu sử dụng trong lúc thưởng thức tiếng hát của ca nương.

Những người làm công tác sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn văn hóa dân gian ở Quảng Ninh nhận thấy Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình có ở vùng này từ lâu đời, gắn với lịch sử của cư dân vùng đảo, biên giới Đông bắc làm ăn, sinh sống lâu đời, bản thân Di sản văn hoá Hát nhà tơ – hát, múa cửa đình có một không gian văn hoá rộng và có quan hệ với cả người Việt đang cư trú bên 3 làng: Sơn Tâm, Vạn Vỹ, Giang Bình, thuộc huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

hat-nha-to-hat-mua-cua-dinh-la-di-san-van-hoa-cua-nguoi-viet

Lớp tập huấn Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình tại Móng Cái

Trong khi đó chính quyền tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc đã công nhận Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình của dân tộc Việt tại Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Dân tộc thiểu số của Trung Quốc) là Di sản văn hoá phi vật thể.

Tại Hội nghị triển khai các công ước Unesco được tổ chức ở Hà Nội năm 2010, TS Lê Thị Minh Lý, Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hoá  (Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) tỏ ra lo lắng: “Một hội hát ở Quảng Ninh “theo chân” người Việt sang Quảng Tây, được Trung Quốc đầu tư, xếp hạng di sản cấp Quốc gia và sắp tới trình lên Unesco Liên hiệp Quốc công nhận Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình là Di sản văn hoá của Trung Quốc, trong khi chúng ta vẫn bình chân như vại”…

Hiện nay, phía Trung Quốc đang rất quan tâm nghiên cứu, sưu tầm những nét đặc trưng của văn hóa Việt tại các vùng với mục đích vừa tìm hiểu mối quan hệ của cư dân 2 bên biên giới; vừa để phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa xã hội các địa phương giáp biên.

Qua tiếp xúc với 4 người Trung Quốc tại Đông Hưng, một số chuyên gia nghiên cứu văn hóa rút ra kết luận: Đây là sự tất yếu, do sự giao lưu, do trong quá trình lao động và quan hệ xã hội. Tuy những người Việt sinh sống ở đây đã hàng nghìn năm, từ đời này qua đời khác, trước những tác động và sự chi phối của các triều đại nước sở tại, đến nay những người Việt ở đây vẫn còn giữ được tiếng nói, phong tục, tập quán, sinh hoạt và cả những sinh hoạt văn hóa họ tự truyền lại cho con, cháu, chắt.

Chính quyền ở đây cũng không thể xóa đi những gì đặc sắc trong nét sinh hoạt văn hóa của người Việt tại đây. Họ coi đây là văn hóa dân tộc Việt, là dân tộc ít người của Trung Quốc, nên họ vẫn cho hoạt động bình thường như biên giới giáp với Nga, Triều Tiên.

Người Việt sinh sống ở đây hình thành theo 3 dạng khác nhau: Người Việt cư trú từ lâu đời; Người Hoa về nước từ năm 1978 – 1979; Phụ nữ Việt Nam lấy chồng người Hoa và người Việt gốc Hoa. Người Việt từ lâu đời đã tạo ra được đời sống văn hóa, kinh tế – xã hội bền vững, gắn bó và đã là công dân nước sở tại, người Hán gốc Việt.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Quảng Ninh, cho biết: “Những người Việt ở đây ít được tiếp xúc với những thông tin từ quê hương. Cá biệt có người khi được hỏi còn không hiểu gì về vịnh Hạ Long, dù sống rất gần biên giới. Thêm nữa, nhiều nhà nghỉ, khách sạn bên Đông Hưng, Giang Bình (Quảng Tây- Trung Quốc) không có đồng hồ giờ Hà Nội!” Có nhiều nguyên nhân để lý giải vì sao người Việt đã sinh sống ở đây từ lâu đời, hiện nay nhiều người vẫn nói được tiếng mẹ đẻ và vẫn còn lưu truyền trong dân gian những nét sinh hoạt văn hoá của người Việt? Trước hết là do lòng tự tôn dân tộc của họ vẫn còn, những người phụ nữ thường là gần gũi với con, nói tiếng Việt (Kinh) tiếng mẹ đẻ, gia phả của họ vẫn giữ lại họ là người gốc Việt, nhiều người biết rõ quê gốc của họ ở Đồ Sơn (Hải Phòng) hay Thanh Hóa, Nghệ An …

Đời sống tâm linh và phong tục, tập quán của người Việt trong các làng vẫn được duy trì: Đình, chùa, miếu làm cho họ luôn nhớ về cội nguồn. Ông Nguyễn Quang Vinh kể lại: “Lần ấy tôi và Ngô Trung Hoà, Bùi Đức Chiển sang Đông Hưng gặp 3 người Trung Quốc vẫn thường xuyên hát giao lưu với bên Việt Nam nhân các ngày lễ hội của họ và giao lưu với những người hát bên ta vào ngày lễ hội tâm linh của cư dân 2 bên biên giới. Cả một buổi sáng chúng tôi trao đổi nói chuyện về Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình. Họ hát giao lưu cùng với chị Bùi Thị Xứng, Bùi Thị Hải rất sôi nổi, vui vẻ, họ thuộc rất nhiều bài, khi trao đổi, họ đều nói bằng tiếng Việt (Kinh) rất sõi, họ nói đã sang cư trú bên Trung Quốc 6- 7 đời, do biết nói tiếng Việt là vì ở làng người Việt Nam, vẫn giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt (Kinh). Và điều rõ ràng không cần bàn cãi là Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình là của Việt Nam, người Hoa gốc Việt từ nhiều đời mang theo từ Việt Nam sang…”.

Như vậy, di sản văn hóa phi vật thể Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình của người Việt tại Trung Quốc là một bộ phận nhỏ của các cư dân người Việt mang đến Trung Quốc không thể biến thành của họ được.

Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình đã rõ ràng từ nguồn gốc Ca trù của Việt Nam, nằm trong phạm trù Ca trù của Việt Nam. Đúng như nhận định của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam: “Ở vùng Quảng Ninh đã hình thành và tồn tại một loại hình hát múa dân gian có sắc thái riêng được nhân dân địa phương gọi là hát nhà tơ- hát cửa đình. Loại hình này nằm trong phạm trù hát ca trù nhưng nó có những nét riêng”. Trung Quốc không thể coi văn hóa phi vật thể Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình là của Trung Quốc vì Ca trù của Việt Nam đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại từ năm 2009. Nhưng nếu không có chính sách để bảo tồn thì nguy cơ di sản này sẽ bị mai một là điều có thật.

Lão nghệ nhân đàn đáy Phạm Văn Lận, 107 tuổi, báu vật sống của Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình

Lão nghệ nhân đàn đáy Phạm Văn Lận, 107 tuổi, báu vật sống của Hát nhà tơ- hát, múa cửa đình


Fatal error: Call to undefined function display_saic() in /home/khoc7025/public_html/wp-content/themes/BICT/single.php on line 93