“Body positivity” – Từ vựng của năm 2021

Đăng bởi: Tiêu Tiêu Thứ Tư, 22 Tháng Mười Hai 2021 1:30 chiều

Một nữ ca sĩ Adele, một nữ diễn viên Rebel Wilson, hai cái tên không chỉ thành công về mặt nghệ thuật mà còn phủ sóng báo đài bởi những thông điệp mới mẻ của mình, định danh lại một danh từ mới như “body positivity”.

Từ vựng của năm

Còn nhớ cả Adele và Rebel Wilson đều rất ngạc nhiên trước những phản hồi trái chiều về việc giảm cân của mình. Họ không hiểu vì sao lúc có thân hình cũ thì cũng có lời dè bỉu chê bai, đến lúc giảm cân rồi vẫn không được yên thân, như thể cơ thể họ là một công trình công cộng ai cũng có quyền lên tiếng phê bình, sửa sang cho đến khi hợp mắt thì thôi. Adele chẳng ngần ngại nói cô thất vọng đến thế nào khi cơ thể cô lúc nào cũng bị miệng lưỡi đám đông chĩa vào, người ta cho rằng cô “đang làm tấm gương xấu cho những người chỉ vừa mới (tạm gọi là) chấp nhận một chuẩn mực cái mới về cân nặng”. Giờ đến chính Adele lại cũng “chạy theo một chuẩn mực chung chung, thật là một cú tát vào những người có cùng tạng người như cô”. Và “ai mà cũng như cô thì thế giới lại quay trở về cái thời người mẫu mình dây trên tạp chí mới là đại diện của vẻ đẹp”.

Rebel Wilson cũng có những chia sẻ tương tự trên bài phỏng vấn mới nhất trên đài BBC, dù cô một mực khẳng định, “Tôi nghĩ chẳng quan trọng bạn béo hay gầy, và chắc chắn mục đích giảm cân của tôi không phải để chứng minh những điều ngược lại về body positivity. Tôi chỉ muốn là phiên bản khoẻ mạnh hơn của chính mình!”

Cả Adele và Rebel đều không thể ngờ được mình chính là người giúp cho từ vựng “body positivity” trở thành từ khoá tìm kiếm nhiều đến vậy trên công cụ tìm kiếm. Cũng giống với những khái niệm mới nảy sinh từ xã hội hiện đại liên quan đến giới tính, bình quyền, những cuộc đấu tranh để thay đổi về chuẩn mực cố hữu liên quan đến cái đẹp đã không còn là chuyện mới, nhưng lại lúc nào cũng có vấn đề mới để nói đến.

“Body positivity” là một trong 1.400 từ mới được giới thiệu trong từ điển Oxford English Dictionary vào năm 2021, bên cạnh những từ như “body-shaming”, “fat-shaming”, sau nhiều nghiên cứu chỉ ra tác động tiêu cực của những nhận xét liên quan đến cơ thể tới sức khoẻ tinh thần. Một khảo sát được thực hiện vào năm 2020 chỉ ra có tới 62% phụ nữ cảm thấy cơ thể mình có vấn đề, nguyên nhân sâu xa đến từ văn hoá đại chúng cổ xuý chế độ ăn giảm cân, những tấm ảnh được edit và retouch đăng tải rộng rãi trên phương tiện truyền thông, sự vắng bóng đa dạng kiểu tạng người… tác động trực tiếp đến cách mọi người nhìn nhận chính cơ thể mình.

Chỉ riêng trên Instagram, đã có 16 triệu post đính kèm hashtag “body positive”. Tuy đã xuất hiện từ trước nhưng có vẻ chỉ đến năm 2021, đây mới trở thành từ khoá “gây sốt” như vậy. Mạng xã hội từ một nền tảng từng bị lên án là công cụ đắc lực cho những bàn luận tiêu cực liện quan đến cơ thể, nhưng cũng không thể phủ nhận mạng xã hội cũng là nơi giúp truyền bá một thông điệp mới nhằm chống lại những kỳ vọng độc hại về một cơ thể hoàn hảo không tỳ vết.

Tưởng mới mà cũ

Trái với nhiều người hình dung, danh từ “body positivity” xuất hiện từ những năm 1960, cùng thời điểm phong trào cổ vũ việc chấp nhận tạng người béo, nặng cân, chống lại những sự phân biệt đối xử với ngưởi có cơ địa tròn trịa, và xoá bỏ quan niệm xưa cũ là cứ người béo là người ăn nhiều chứ không phải do tạng người.

Vào giữa những năm 2000 – đầu những năm 2010, “boy positivity” nổi lên như một phiên bản mở rộng của phong trào chỉ thuần hướng đến tạng người béo, đặc biệt nổi tiếng ở cộng đồng mạng xã hội, càng ngày càng biến thể đến những đối tượng khác như người da màu có tạng người lớn, hay những cơ thể quá gày từng là chuẩn mực một thời. Nhưng có lẽ chỉ đến khi càng có nhiều những biểu hiện sai lệch của việc nhìn nhận một cơ thể nổi lên, người ta mới càng có thêm ý tưởng để hoàn thiện định nghĩa cụm từ này.

Nếu như trước đây, “body positivity” chỉ đơn giản nhấn mạnh sự phản đối những quan niệm mặc định về một hình dáng cơ thể bên ngoài, thì giờ đây từ này hướng đến đối tượng rộng hơn, đến mọi hình thái của những đối xử sai lệch liên quan đến cơ thể nói chung. Một ví dụ cụ thể nhất là vào năm 1994, từ này từng được sử dụng để chỉ cảm giác thoải mái khi có thể thể hiện sự tương tác cơ thể và cảm xúc ở bên ngoài, thay vì chỉ là vẻ bề ngoài. Thuật ngữ này cũng thường xuyên liên quan đến phong trào nữ quyền hay đa dạng giới tính, chống lại những đả kích xã hội về ngôn ngữ cơ thể và biểu hiện hành vi.

Nhìn nhận sai lệch về cái gọi là “một cơ thể” đẹp là một chuyện, đánh giá một người qua vẻ bề ngoài đã và vẫn đang là nguyên nhân dẫn đến những tác động xấu đến sức khoẻ tinh thần và thể chất của bất cứ xã hội nào, thậm chí chính những kỳ vọng vào một chuẩn mực chung chung về số đông dẫn đến những hình thái phân biệt đối xử khác nhau trong xã hội như phân biệt giới, phân biệt chủng tộc, phân biệt đối xử với người khuyết tật…

Theo một khảo sát của Uỷ ban Phụ nữ và Bình đẳng, 71% người khuyết tật cảm thấy tệ hại vì cơ thể của mình, trong khi đó 40% người LGBT từng cảm thấy rất xấu hổ về hình ảnh cơ thể mình. Như vậy, “body positivity” từ ý nghĩa khởi điểm đã có phát triển vượt bậc để trờ thành một danh từ nói lên những vấn đề rất đương đại, đòi quyền lợi cho hình ảnh nhóm người thiểu số yếu thế đang ngày càng đa dạng.

Hiểu sao cho đúng?

Vì sao cần hiểu danh từ này, khi nội dung của nó đã quá rõ ràng? Hãy hỏi những người như Adele hay Rebel Wilson, và bạn sẽ nhận ra rằng phong trào nào khi đẩy lên đỉnh điểm cũng sẽ trở thành một kiểu đấu tranh tiêu cực một chiều. “Body positivity” cũng không phải ngoại lệ khi có thể trở thành công cụ để chống lại những người hướng đến hoàn thiện cơ thể để thay đổi hình ảnh hay cải thiện sức khoẻ. Bản chất cơ thể vẫn là của mỗi người, và nó trở nên như thế nào nên là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Và không chỉ là cơ thể của nữ giới, bất cứ ai có một cơ thể cũng dễ dàng là nạn nhân của những đánh giá, phán xét với hình dáng, ngôn ngữ cơ thể chính mình.

Đây cũng là tiền đề cho một cái nhìn và ý nghĩa mới về “body positivity”: “body acceptance” – chấp nhận cơ thể dù thế nào, chấp nhận cơ thể chính mình và chấp nhận cơ thể người khác. Chỉ có chấp nhận, bạn mới có thể tôn trọng. Chỉ đến từ chấp nhận bạn mới thấy vẻ đẹp của sự đa dạng.

 

Xem thêm