Giải mã về cây mạ mân được người dân tộc sử dụng giải độc mát gan

Khỏe Đẹp Plus – Từ bao đời nay, cây mạ mân được người dân tộc miền núi phía Bắc dùng đun nước uống hằng ngày mát gan, lợi mật và thanh lọc cơ thể.

Tác dụng của cây mạ mân đã được khoa học nghiên cứu

Cụ thể, cây mạ mân đã được đồng bào Tày, Nùng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn… sử dụng làm thuốc chữa viêm gan, vàng da, giải rượu rất tốt. Cây mạ mân có tên khoa học là Aganope balansae

Từ xưa, đồng bào dân tộc vùng cao ở các tỉnh phía Bắc như: Hòa Bình, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Thái Nguyên đã dùng loại cây này để chữa các bệnh liên quan đến gan, chữa vàng da.

Đồng bào dân tộc Tày ở Lạng Sơn thường dùng cây này để đun nước uống hằng ngày, mong giải độc mát gan. Người Tày ở Thái Nguyên thì nấu cao làm thuốc gan. Người Mường ở Hòa Bình coi nó là một trong ba bài thuốc chữa trị sa hậu môn.

Cây mạ mân là gì?

Cây mạ mân có tên gọi khác là cây Cóc kèn. Tên khoa học là Aganope balansae (Gagnep.). Cây mạ mân thuộc họ đậu. Đây là loại cây thân gỗ, cao gần chục mét, thân rộng khoảng 15cm. Các nhánh non không có lông. Lá bản to. Có lá chét xoan, dài khoảng 15cm, rộng gần 10cm, không có lông, có khoảng 6 đôi gân dọc lá. Cuống phụ của nó dài khoảng 1cm. Chùy hoa hoa mọc ở nách của lá. Đây là loại cây có quả. Quả của nó dài khoảng 10cm, rộng khoảng 5cm, có hạt.

Mạ mân (Aganope balansae) là cây thuốc đã được người dân sử dụng rễ cây làm thuốc chữa bệnh như: Lợi tiểu, viêm gan, vàng da. Tuy nhiên, việc sử dụng mạ mân mới theo kinh nghiệm dân gian. Cho đếnay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới chưa có tài liệu nào công bố các nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của cây mạ mân.

Những thử nghiệm cận lâm sàng trên chuột đã cho thấy tác dụng bảo vệ gan trên mô hình gây viêm gan thực nghiệm ở chuột.

Những hoạt chất chính có trong rễ cây mạ mân gồm 7 nhóm chất (alcaloid, acid hữu cơ, flvonoid, saponin, tanin, đường và polysaccharid); trong thân cây có 5 nhóm chất (alcaloid, acid hữu cơ, tanin, đường và polysaccharid), trong lá cây có 3 nhóm chất (acid hữu cơ, tanin và polysacchrid). Xác định được trong rễ và lá cây Mạ mân có 26 nguyên tố, thân cây mạ mân có 22 nguyên tố, trong đó có nhiều nguyên tố có lợi cho sức khỏe.

Mô tả thực vật:

Cây gỗ nhỏ, cao tới 8m, thân to 15cm, nhánh non không lông. Lá to, lá chét xoan rộng, dài đến 16cm, rộng 8cm, không lông, gân bên 5 – 6 đôi, cuống phụ đến 1cm. Chùy hoa ở nách lá. Quả dẹp dài đến 10cm, rộng 4cm, có 2 cánh rộng đến 8mm, hạt 1 – 2.

PGS.TS Nguyễn Huy Thuần, viện trưởng viện nghiên cứu y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu và sử dụng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn dùng nước sắc thân và rễ cây mạ mân cho các bệnh nhân bị viêm gan, vàng da và các hội chứng khác liên quan đến bệnh gan, mật dựa trên cơ sở kế thừa và bảo tổn bài thuốc của bộ Y tế.

Thấy rõ hiệu quả của thuốc, Trạm nghiên cứu Dược liệu tỉnh Lạng Sơn đã nghiên cứu dưới dạng cao lỏng để điều trị nên nhiều người có cơ hội được tiếp cận với loài dược liệu quý này. Tuy nhiên thuốc vẫn được sử dụng trong một phạm vi hẹp đã là một hạn chế của sự truyền bá bài thuốc tốt ở nước ta.

Theo thông tin của Viện dược lệu, Bộ Y tế, năm 1987 nhóm nghiên cứu của viện dược liệu (DS.Phạm Duy Mai và cộng sự) đã kết hợp với trạm nghiên cứu Dược liệu tỉnh Lạng Sơn nghiên cứu một số tác dụng chống viêm gan trên invitro cho kết quả tốt. Bước đầu đã kết luận cây không có độc tính nhưng chưa được công bố.

Cho đến năm 2006 Nghiên cứu sinh Trần Quốc Toản dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Duy Thuần đã thực hiện và bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ (năm 2012) với đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thành phần hoá học và một số tác dụng dược lý của cây Mạ mân (Aganope balansae (Gagnep.) Phan Ke Loc, Fabaceae)”

Cây mạ mân có tác dụng bảo vệ lá gan, chống viêm và lợi mật.

  • Bảo vệ gan: Thử nghiệm trên chuột bạch, saponin chiết từ rễ cây và nước cao của cây mạ mân có tác dụng bảo vệ gan chuột trên hô hình gây viêm gan bằng paracetamol liều cao.
  • Chống viêm: Thử nghiệm trên chuột cống trắng, dạng bào chế saponin từ rễ và nước nấu cao của cây mạ nân chống viêm cấp và viêm mạn.
  • Lợi mật: Thử nghiệm trên chuột nhắt trắng, bào chế saponin và cao lỏng từ cây mạ mân đúng là có tác dụng lợi mật.

Do đó, cây mạ mân thật sự có hiệu quả tốt đối gan, mật, kháng viêm và lợi tiểu.

Ai cũng biết những ảnh hưởng của rượu bia đến tim mạch, dạ dày, thần kinh đặc biệt là gan. Gây ra các bệnh về gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, thậm chí ung thư gan, nhưng nhiều người vẫn không thể từ bỏ được do tính chất công việc.

Nhưng dùng thuốc giải độc gan không đúng cách cũng là con đường ngắn nhất đưa gan tới bị bệnh do làm việc quá mức. Bạn thường xuyên dùng các loại thuốc/dược liệu giải độc gan, khiến gan phải làm việc quá mức, dẫn đến suy gan. Vì vậy, lựa chọn “bạn đồng hành” vơi gan cũng rất quan trọng.

giai-ma-ve-cay-ma-man-duoc-nguoi-dan-toc-su-dung-giai-doc-mat-gan

Qua điều tra nghiên cứu ở những thầy lang thường xuyên cho bệnh nhân sử dụng loại dược liệu này, thấy gan không có những biểu hiện hay tác dụng phụ nào khác. Đây là một tín hiệu rất đáng mừng cho những người bị bệnh về gan và thường xuyên phải sử dụng rượu bia. Thậm chí, Mạ mân còn có tác dụng giải rượu rất tốt. Những người thường xuyên phải uống rượu bia, trước và sau khi uống mà sử dụng cao mạ mân thì đầu óc tỉnh táo, tửu lượng được nâng lên đáng kể và không còn cảm giác đau đầu khó chịu.

Cách dùng cây mạ mân

Sắc nước uống

Sắc nước cây mạ mân: Từ bao đời nay, cộng đồng người dân tộc Tày – Nùng ở miền núi đã dùng cây này làm nước uống thanh nhiệt giải độc. Kinh nghiệm của họ rất đơn giản. Cây mạ mân được chặt ở rừng. Lấy dao chặt lát mỏng, dùng tươi. Rửa sạch, cho vào siêu hoặc nồi, đổ nước ngập thuốc. Sau đó cho lên đun qua bếp. Đun sôi khoảng 10 phút là có thể bắc xuống dùng thay nước uống hằng ngày.

Cây mạ mân có màu sẫm rất đẹp. Mùi nồng, vị hơi đắng. Tuy nhiên, cũng rất dễ uống.

Có thể rót nước mạ mân, đóng chai, cho vào tủ lạnh dùng dần. Nước thuốc vừa có tác dụng giải khát vừa có tác dụng tiêu độc, mát gan, lợi tiểu.

Phơi khô cây mạ mân để sử dụng dần: Chọn thân, rễ cây mạ mân già. Đem về rửa sạch, thái lát cây mỏng, phơi khô. Đóng gói bảo quản chỗ khô ráo để dùng dần. Cách dùng tương tự như dùng tươi.

Sử dụng dưới dạng cao mạ mân.

Cao lỏng từ cây mạ mân: Người dân tộc thường chặt thân, rễ của cây mạ mân để nấu cao lỏng. Họ cho vào nồi lớn, đun nhỏ lửa trong khoảng 2 ngày, sau đó chắt lấy nước để sử dụng.

Cách dùngVì hàm lượng dược tính trong nước cao lỏng cây mạ mân rất nhiều nên người dùng chỉ cần một số lượng ít là có hiệu quả rất tốt. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 2 – 3 chén nhỏ.

Cao cô đặc từ cây mạ mân: Dùng thân và rễ cây mạ mân, rửa sạch, cho vào nồi lớn, đun nhỏ lửa trong khoảng 6 ngày đêm. Sau khi các thành phần nguyên liệu cây mạ mân cô đặc sệt thì bắc xuống. Đổ ra khay đã chuẩn bị sẵn. Đợi khoảng 1 ngày cao nguội, kết dính lại. Sau đó cắt thành từng khoanh, bọc giấy, gói lại bảo quản dần.

Cách dùng: Cao mạ mân có thể dùng hằng cao để pha nước sôi uống. Mỗi lần cắt một mẩu bằng hạt đỗ đen, pha với một cốc nước sôi. Có thể dùng cao mạ mân để hầm với thức ăn.

Dùng cây mạ mân kết hợp với các vị thuốc khác: Người dân tộc thường kết hợp cây mạ mân với các loại bài thuốc quý khác để chữa các bệnh liên quan về vàng da, viêm gan, xơ gan cổ trướng, thuốc lợi tiểu. Tuy nhiên, sự kết hợp này phải theo chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên môn.

Việc uống cây mạ mân dưới các dạng khác nhau thì về cơ bản, cơ thể cũng hấp thu được những tinh chất quý giá từ cây mạ mân, giúp điều hòa cơ thể, thanh nhiệt, giải độc, chống viêm, phòng chữa viêm gan, giúp lợi tiểu và phòng trừ nhiều bệnh khác.

Hotline tư vấn: 0962553993

 

 

Free WordPress Themes, Free Android Games