Rớm nước mắt với những câu ca than thân của phu mỏ

Khỏe Đẹp Plus Hòn Gai, Cẩm Phả, Đông Triều/Cuộc đời phu mỏ đói nghèo đắng cay…

Lần theo các nguồn tài liệu, sử sách xưa, nguồn tin từ những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, chúng tôi đã lần theo những câu ca than thân đặc biệt của tầng lớp phu mỏ ở Quảng Ninh.

Cảng than ở Quảng Ninh (ảnh chụp năm 1917)

Cảng than ở Quảng Ninh (ảnh chụp năm 1917)

Khác với ca dao ở những nơi khác, ca dao vùng than ra đời muộn hơn; bắt đầu xuất hiện cùng với quá trình khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp. Đa số những thợ mỏ ở Quảng Ninh đều là dân từ các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương v.v. Đó là những nông dân nghèo, đói khổ, không có ruộng phải chịu cảnh mộ phu. Ra Vùng mỏ, họ bị tù đày, roi vọt hà khắc của bọn chủ. Ốm đau, bệnh tật, tai nạn luôn luôn rình rập họ: “Nam Định là chốn quê nhà/ Có ai về mộ cu ly ra làm/ Anh em cơm nắm ra Nam/ Theo ông cai mộ đi làm mỏ than/ Cu ly kể có hàng ngàn/ Toàn là rách mặc đói ăn vật vờ”. Khi ước vọng trở về cố hương không thành thì họ lại ký thác tâm sự vào những câu ca: Hay như nỗi nhớ quê hương Nam Định: “Bà ơi, cho cháu xin xu/ Cháu mua bánh gù cháu gửi về Nam/ Tháng này bố cháu đi làm/ Bị cai cúp phạt chẳng còn một xu”.

Cẩm Phả năm 1917

Cẩm Phả năm 1917

Không gian thiên nhiên tuy đẹp nhưng lại mang xót xa của con người chưa được làm chủ: “Hòn Gai có núi Bài Thơ/ Nhác trông đàn khỉ đu đưa trên cành/ Đêm nằm nghe vượn cầm canh/ Khỉ hời, vượn hỡi thấu tình cho chăng?”. Trong ca dao Vùng mỏ, có không gian vật lí: “Sáng đi tối đất mù giời/ Tối về chẳng biết mặt người là ai?”. Không gian địa lý như các địa danh Cửa Ông, Vàng Danh, Hà Lầm, Cọc Sáu, Mông Dương, Hòn Gai, Đông Triều cũng phảng phất trong những câu ca: “Ăn cơm với cá mòi he/ Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời”.

Không gian để tâm sự là nhà máy, hầm mỏ: “Ngày ngày anh vẫn đi làm/ Đi qua nhà máy nhặt ngầm bù-loong/ Đem về anh bỏ vào hòm/ Bắc cân bắc lạng còn non một vài/ Cẩm Phả xem thợ nào tài/ Thì anh kéo nhẫn hoa tai cho nàng/ Người ta kéo bạc kéo vàng/ Anh nay kéo xích sắt cho nàng, nàng ơi”.

Bác Hồ với người dân vùng mỏ

Bác Hồ với người dân vùng mỏ

Ca dao Vùng mỏ thể hiện một không gian động, động cùng nhịp sống lao động của người thợ và thời gian luẩn quẩn bế tắc. “Lên tầng khuỵu khối đun xe/ Gò lưng mửa mật nắng hè cháy da/ Con nằm khát sữa ở nhà/ Mẹ đau vú sữa vắt ra đầy đường/ Chiều về nhạt ánh tà dương/ Ôm con cho bú lẫn than với bùn”. Những câu ca đã nói lên sự vất vả khổ cực của đời phu mỏ, đầu tắt mặt tối, lấm lem bùn than suốt cả ngày. Họ phải làm việc có khi đến 12 tiếng bị đánh đập bị cúp phạt v.v: “Ăn thì gạo mục cá khô/ Ngày mười hai tiếng đồng hồ đội than”. Thời gian với họ quẩn quanh, không gian chỉ là đêm đen chẳng thấy mặt trời. Do đó, dù có động đi chăng nữa thì không gian động ấy vẫn luôn o bế, ngột ngạt: “Ngày ngày nghe tiếng còi tầm/ Nghe như tiếng vọng từ âm phủ về/ Tiếng còi não nuột tái tê/ Đi vào hầm mỏ như lê vào tù”. Và, họ luôn cảm thấy rợn người trước cảnh thiên nhiên: “Ru con con ngủ cho ngon/ Mẹ ra bờ biển bắt con sá sùng/ Quanh năm cá biển rau rừng/ Sa chân lỡ bước đường cùng thì thôi/ Con đừng khóc nữa con ơi/ Biết đâu sông nước đầy vơi bao giờ. Sự cơ cực và cả những cái chết luôn ám ảnh người thợ: “ Đặt mình chưa ấm chỗ nằm/ Đã lại còi tầm hú gọi ra đi/ Dế kêu suối chảy rầm rì/ “Bắt cô trói cột” não nề ngân nga/ Đoàn người hay quỷ, hay ma/ Tay mai, tay cuốc sương sa mịt mù/ Hai bên gió thổi ù ù/ Tưởng oan hồn của dân phu hiện về”.

Âm hưởng chung trong phần lớn các bài ca dao Vùng mỏ là sự than thân. “Vợ chồng con cái long đong/ Bán nhà bán đất bế bồng nhau đi/ Đau lòng thay lúc phân ly/ Mất trâu mất ruộng ra đi phen này/ Tìm vào đến mỏ Hòn Gai/ Xin làm phu mỏ ở ngay dưới hầm/ Cuộc đời vất vả âm thầm/ Mông Dương, Cẩm Phả, Hà Lầm đều qua”. Vùng mỏ khi ấy không phải là miền đất hứa như một số người đã lầm tưởng: “Trót nghe bầu bạn ra đây/ Lạ thung lạ thổ, lạ cây, lạ nhà/ Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát/ Huyện Hoành Bồ đá cát mênh mông/ Ai ơi đứng lại mà trông/ Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già/ Vui gì mà rủ nhau ra/ Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân”. Từ than thân trách phận đến chỗ muốn lẩn tránh, trốn chạy khỏi sự áp bức của bọn Thực dân chủ mỏ: Trách thân lắm tủi nhiều hờn/ Hai mươi bảy Tết vẫn còn ở đây/ Năm nào cũng ở ngoài này/ Thà rằng sang quách bên Tây cho rồi. Nhưng lẩn tránh không được cho nên chỉ biết ước ao và tự hỏi mình, hỏi trời: “Chỉ vì cái buổi Tây Tàu/ Bao giờ hết kiếp ngựa trâu hỡi trời”. Cuối cùng là phản kháng đứng dậy: “Nào anh nào chị nắm tay/ Cuộc đấu tranh này chỉ thắng không thua/ Nhìn cờ trên núi Bài Thơ/ Báo ân báo oán đến giờ rồi đây”.

Theo nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài: “Ca dao Vùng mỏ để lại giá trị đặc biệt về ngôn ngữ, về hình ảnh, về cấu tứ và bố cục đặc biệt là về thi pháp”. Ca dao Vùng mỏ (vùng than) không chỉ là văn học dân gian của Quảng Ninh mà còn là kho tàng văn học dân gian của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung.

Free WordPress Themes, Free Android Games